Trường hợp không phải nộp thuế Thu nhập cá nhân?

Ngày 01/06/2021, Bộ tài chính có ban hành Thông tư số 40/2021/TT-BTC (“TT 40”) hướng dẫn thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, sẽ có hiệu lực vào ngày 01/08/2021. Theo đó, TT 40 quy định về mặt thủ tục hành chính thuế, các nội dung về chính sách thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động kinh doanh của cá nhân vẫn đảm bảo theo đúng quy định của các luật thuế có liên quan. Tuy nhiên, có điểm nổi bật đáng chú ý trong TT 40 là trường hợp không phải nộp thuế: cá nhân kinh doanh, bao gồm cả cá nhân cho thuê tài sản, có doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống thuộc diện không phải nộp thuế.

Ca nhan thu nhap duoi 100 trieu mot nam
Truong hop khong phai nop thue Thu nhap ca nhan

1. Quy định của pháp luật về thuế Thu nhập cá nhân?

a. Nguyên tắc tính thuế Thu nhập cá nhân

Cụ thể, quy định tại Điều 4 của TT 40:

Điều 4. Nguyên tắc tính thuế

1. Nguyên tắc tính thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được thực hiện theo các quy định của pháp luật hiện hành về thuế GTGT, thuế TNCN và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

2. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh trong năm dương lịch từ 100 triệu đồng trở xuống thì thuộc trường hợp không phải nộp thuế GTGT và không phải nộp thuế TNCN theo quy định pháp luật về thuế GTGT và thuế TNCN. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có trách nhiệm khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng hạn; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế theo quy định.

3. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh theo hình thức nhóm cá nhân, hộ gia đình thì mức doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp thuế GTGT, không phải nộp thuế TNCN được xác định cho một (01) người đại diện duy nhất của nhóm cá nhân, hộ gia đình trong năm tính thuế.”

b. Kỳ tính thuế Thu nhập cá nhân

Bên cạnh đó, thời gian một năm theo kỳ tính thuế được quy định tại Điều 6 Thông tư 111/2013/TT-BTC như sau:

Điều 6. Kỳ tính thuế

1. Đối với cá nhân cư trú

a) Kỳ tính thuế theo năm: áp dụng đối với thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công.

Trường hợp trong năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên thì kỳ tính thuế được tính theo năm dương lịch.

Trường hợp trong năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày nhưng tính trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam là từ 183 ngày trở lên thì kỳ tính thuế đầu tiên được xác định là 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam. Từ năm thứ hai, kỳ tính thuế căn cứ theo năm dương lịch.

Ví dụ 3: Ông B là người nước ngoài lần đầu tiên đến Việt Nam từ ngày 20/4/2014. Trong năm 2014 tính đến ngày 31/12/2014, ông B có mặt tại Việt Nam tổng cộng 130 ngày. Trong năm 2015, tính đến 19/4/2015 ông B có mặt tại Việt Nam tổng cộng 65 ngày. Kỳ tính thuế đầu tiên của ông B được xác định từ ngày 20/4/2014 đến hết ngày 19/4/2015. Kỳ tính thuế thứ hai được xác định từ ngày 01/01/2015 đến hết ngày 31/12/2015.

b) Kỳ tính thuế theo từng lần phát sinh thu nhập: áp dụng đối với thu nhập từ đầu tư vốn, thu nhập từ chuyển nhượng vốn, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, thu nhập từ trúng thưởng, thu nhập từ bản quyền, thu nhập từ nhượng quyền thương mại, thu nhập từ thừa kế, thu nhập từ quà tặng.

c) Kỳ tính thuế theo từng lần phát sinh hoặc theo năm áp dụng đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán.

2. Đối với cá nhân không cư trú

Kỳ tính thuế đối với cá nhân không cư trú được tính theo từng lần phát sinh thu nhập.

Trường hợp cá nhân kinh doanh không cư trú có địa điểm kinh doanh cố định như cửa hàng, quầy hàng thì kỳ tính thuế áp dụng như đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh.”

2. Cá nhân có thu nhập dưới 100 triệu một năm không phải nộp thuế Thu nhập cá nhân.

Theo đó, năm dương lịch được xác định là bắt đầu từ ngày 01/01 đến hết ngày 31/12 của một năm. Và trong thời gian này, cá nhân, hộ kinh doanh có doanh thu dưới 100 triệu đồng/năm sẽ không phải nộp thuế. Lưu ý, việc xác định doanh thu bao gồm doanh thu của tất cả hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh, cá nhân. Trường hợp trong năm cá nhân đã khai, nộp thuế và đến cuối năm tự xác định doanh thu trong năm từ 100 triệu đồng trở xuống thì cá nhân được đề nghị xử lý hoàn trả hoặc bù trừ vào số phải nộp phát sinh của kỳ sau theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Tuy nhiên, hướng dẫn quy định về phương pháp tính thuế cho thuê nhà, thông tư này có nêu ra trường hợp cá nhân cho thuê nhà phát sinh doanh thu trong 12 tháng liên tục vượt quá 100 triệu nhưng thời gian này không nằm trong 01 năm mà vắt chéo thành 02 năm thì vẫn phải nộp thuế thu nhập cá nhân, dù thực tế doanh thu thực theo 01 năm dương lịch nêu trên dưới 100 triệu.

Ví dụ:

“Ông B phát sinh hợp đồng cho thuê nhà với thỏa thuận tiền cho thuê là 10 triệu đồng/tháng trong thời gian từ tháng 10-2022 đến hết tháng 9-2023. Như vậy, doanh thu thực tế năm 2022 là 30 triệu đồng, nhưng tổng doanh thu tính theo 12 tháng của năm 2022 là 120 triệu đồng; doanh thu thực tế năm 2023 là 90 triệu đồng, nhưng tổng doanh thu tính theo 12 tháng của năm 2023 là 120 triệu đồng. Do đó, Ông B thuộc trường hợp phải nộp thuế giá trị gia tăng, phải nộp thuế thu nhập cá nhân tương ứng với doanh thu thực tế phát sinh của năm 2022 và năm 2023 theo hợp đồng nêu trên” – Hướng dẫn tại TT 40.

Ngoài ra, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2021/NĐ-CP về gia hạn nộp thuế theo đó gia hạn thời gian nộp thuế và tiền thuê đất để giảm bớt khó khăn cho người nộp thuế do tác động của đại dịch COVID-19. Cụ thể, cá nhân cho thuê tài sản phát sinh thuế thu nhập cá nhân phải nộp trong năm 2021 sẽ chưa phải nộp thuế cho đến ngày 31-12-2021.

Kính chúc quý bạn đọc sức khỏe!

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *